free poker
Vietnamese        French
Lượt xem
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay11
mod_vvisit_counterHôm qua4
mod_vvisit_counterTuần này11
mod_vvisit_counterTuần trước49
mod_vvisit_counterTháng này151
mod_vvisit_counterTháng trước291
mod_vvisit_counterTất cả65694

We have: 3 guests online
Your IP: 3.237.200.21
 , 
Today: Sep 21, 2020

Bài thuyết trình tóm tắt

NHẬN DIỆN NGUY CƠ ĐE DOẠ AN NINH MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÍ ĐẶT RA

Phạm Văn Võ

Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh

Khái niệm an ninh môi trường hiện nay được tiếp cận dưới nhiều góc độ. Theo hướng tiếp cận truyền thống, an ninh môi trường được được tiếp cận với ý nghĩa là mục đích tự thân của hoạt động bảo vệ môi trường và được hiểu “là khả năng môi trường có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người một cách bền vững như cung cấp: nơi ở, cung cấp năng lượng và nguyên liệu, khả năng chấp nhận chất thải, cung cấp thông tin khoa học và cung cấp các tiện nghi môi trường” [1]. Trên cơ sở giải thích tại khoản 28 điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường 2014, trong bài viết này, an ninh môi trường được tiếp cận trên cơ sở mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường với vấn đề chính trị, kinh tế , xã hội với ý nghĩa là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia.

Nội dung bài viết tập trung vào việc nhận diện các nguy cơ đe doa an ninh môi trường ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai, bao gồm:

-          Tình trạng hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không được xử lí kiên quyết và triệt để dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, vượt quá sức chịu đựng của người dân;

-          Tình trạng phân bổ quyền khai thác, sử dụng thành phần môi trường không hợp lí tước đi quyền khai thác sử dụng thành phần môi trường phục vụ nhu cầu thiết yếu của cộng đồng;

-          Thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường hiệu quả gây bức xúc cho các đối tượng bị xâm hại bờ hành vi gân ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường.


ÁP DỤNG CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀO VIỆC ĐỔI MỚI

PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM

Michael Parsons

Cố vấn chính sách cho Bộ Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam

Việt Nam cần đảm bảo phương thức bảo vệ môi trường của mình có thể theo kịp với bối cảnh của nền công nghiệp hiện đang thay đổi nhanh chóng. Trong thời gian gần đây, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga, Malaysia, Tunisia, Ma-rốc và Ai Cập đã và đang theo đuổi kinh nghiệm của Châu Âu trong việc xác định các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm nhiều nhất và xây dựng các tiêu chuẩn môi trường mới, những tiêu chuẩn có thể đạt được bằng cách áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có. Hàn Quốc và Nga đã được mục tiêu trên khi chuyển đổi sang cơ chế cấp phép thống nhất, cơ chế mới này được xem là tốt nhất trong việc điều chỉnh vấn đề phát thải ô nhiễm của các cơ sở xả thải lớn trong các ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm nhất. Các điều kiện cấp phép bao gồm cả việc áp dụng các công cụ kinh tế đơn giản như thu phí xả thải vượt mức và yêu cầu mua bảo hiểm trách nhiệm môi trường bắt buộc. Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm này trên con đường hướng đến tương lai của sự tăng cường đầu tư vào các cơ sở công nghiệp phát sinh khối lượng chất thải lớnnguy cơ gây ra thảm họa môi trường.


KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở SINGAPORE: SỰ GIAO THOA

GIỮA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG,

CÁC LUẬT, QUY ĐỊNH VÀ QUY TẮC CÔNG CỘNG

Gary Chan Kok Yew

Khoa Luật, Đại học Quản trị Singapore

 

 

Singapore là một đất nước có diện tích nhỏ, đông dân với xã hội đô thị hóa và xu hướng phát triển công nghệ hiện đại. Tuy luôn được gắn với hình ảnh môi trường xanh sạch nhưng Singapore cũng đang phải đối mặt với những thách thức về tình trạng ô nhiễm môi trường. Cả luật công và luật tư, dù dưới dạng luật thành văn hay thông luật, đều chứa đựng các quy định pháp luật và các quy tắc xã hội điều chỉnh vấn đề ô nhiễm môi trường ở Singapore. Các quy định của pháp luật thành văn tập trung điều chỉnh vấn đề ô nhiễm môi trường bằng chế tài hình sự, các biện pháp phạt hành chính và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân trong trường hợp vi phạm các nghĩa vụ theo luật định. Đạo luật Kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 1999 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời nhằm mục đích kiểm soát hoặc giảm thiểu tác động của ô nhiễm không khí, nước và tiếng ồn. Các cơ quan của Chính phủ thực hiện các biện pháp mang tính phòng ngừa, giám sát và cưỡng chếdựa trên cơ sở các nguyên tắc, quy định, và tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến ô nhiễm môi trường. Trong thời gian gần đây, việc thực thi các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường đã được mở rộng, cùng với việc ban hành Đạo luật về Ô nhiễm Khói xuyên biên giới năm 2014 nhằm đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường phát sinh trên phạm vi khu vực. Thêm vào đó, các quy định của thông luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sơ suất, cẩu thả và các quy tắc được xây dựng từ vụ kiện Rylands v Fletcher được vận dụng để xem xét bồi thường thiệt hại cho những nạn nhân có thiệt hại phát sinh từ các hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Các mục tiêu nâng cao nhận thức về môi trường thông qua giáo dục cộng đồng và nỗ lực của cộng đồng cũng đã và đang được xem trọng ở Singapore. Tuy nhiên, các nỗ lực hòa giải cộng đồng đã và đang được bổ sung bằng việc thành lập các Toà án Giải quyết Tranh chấp Cộng đồng để giải quyết các khiếu nại về khói, mùi, và xả rác tại nơi cư trú của người khiếu nại.


AN NINH MÔI TRƯỜNG KHU VỰC: CÁC THÔNG ĐIỆP CÓ GIÁ TRỊ CHO

CÁC QUỐC GIA CHÂU Á DỰA TRÊN KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ, CHẤT THẢI NGUY HẠI

VÀ HÓA HỌC, VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

Kanami ISHIBASHI

Đại học Nghiên cứu Quốc tế Tokyo

Trong quá trình phát triển kinh tế, Nhật Bản đã phải gánh chịu tất cả các vấn đề môi trường nghiêm trọng. Bệnh Minamata và bệnh Itai-Itai xuất hiện là hậu quả của các chất thải hóa học như thuỷ ngân và cadmium, và bệnh hen suyễn Yokkaichi là do ô nhiễm không khí bởi oxit lưu huỳnh (SOx). Tất cả những bệnh dịch này đều xuất hiện từ những năm 1950 đến 1970. Trong thời kỳ đó, Nhật Bản cũng đã phải đối mặt với căn bệnh Yusho do nhiễm độc bởi polyclorinated biphenyl (PCBs). Ngày nay, Nhật Bản vẫn đang phải đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu cũng như những vấn đề từ sự cố của các nhà máy điện hạt nhân. Nhật Bản đã giải quyết tốt tất cả các vấn đề nội địa đó thông qua sự hợp tác với cộng đồng quốc tế và khu vực. Vì vậy, việc tìm hiểu kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc tiếp cận những vấn đề môi trường có thể mang lại giá trị tham khảo cho các quốc gia ở Châu Á.

Sự cố về nhà máy điện hạt nhân, hơn hết, có thể được xem là bài học đắt giá cho thế giới, bởi vì mặc dù chỉ có vài vụ tai nạn hạt nhân đã xảy ra nhưng đều có thể xem là tương tự như vụ tai nạn hạt nhân Chernobyl. Cần lưu ý rằng Nhật Bản đã phản ứng nhanh chóng nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại từ các sự cố này như: sai lầm trong công tác sơ tán dân cư ở khu vực đó, rò rỉ nước bị ô nhiễm phóng xạ xuống biển và kích hoạt lại các nhà máy điện hạt nhân với "tiêu chuẩn an toàn không đầy đủ".

Nhật Bản đã có thỏa thuận chuyển giao công nghệ hạt nhân với Việt Nam. Do đó, Nhật Bản phải chịu trách nhiệm về độ an toàn hạt nhân của các nhà máy điện được xây dựng dựa trên sự hợp tác này, ngay cả khi bản thân Nhật Bản vẫn còn đang đối mặt với những vấn đề nan giải về các nhà máy điện hạt nhân đã bị ngừng vận hành để kiểm tra sau sự cố nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima vào năm 2011. Cho đến nay, Tòa án luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh môi trường ở Nhật Bản, bảo vệ sức khỏe con người bằng việc viện dẫn đến quyền cá nhân và trên cơ sở đó ra lệnh đình chỉ hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân hoặc ra lệnh bồi thường cho các nạn nhân của các vụ tai nạn nhà máy điện hạt nhân. Các quốc gia sử dụng công nghệ hạt nhân của Nhật Bản cần lưu ý rằng cho dù tiêu chuẩn an toàn của Nhật Bản đối với các nhà máy điện hạt nhân giả định là đã được thiết lập tốt nhưng không có tiêu chuẩn nào là hoàn hảo và vấn đề an ninh môi trường luôn cần được chú trọng.


PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

                                                          Thái Thị Tuyết Dung

                                                          Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin nói chung và thông tin về môi trường nói riêng được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và Luật Bảo vệ môi trường 2014 và nhiều văn bản khác, tuy nhiên quyền này vẫn chưa được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn do thiếu một hệ thống các quy định có tính khả thi như: thủ tục cung cấp thông tin, cơ chế phối hợp chia sẻ thông tin, chưa có chế tài áp dụng khi nhiều chủ thể vi phạm các quy định về cung cấp thông tin, tiếp cận thông tin.

Năm 2016, Quốc hội đã ban hành Luật tiếp cận thông tin (có hiệu lực vào ngày 01.7.2018) đã đưa ra nhiều nội dung liên quan đến phạm vi, thủ tục công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu, nguyên tắc áp dụng Luật tiếp cận thông tin…, những quy định khi có hiệu lực sẽ mâu thuẫn với những quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014, từ chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, phạm vi thông tin môi trường được công khai và yêu cầu cung cấp, thủ tục trình tự yêu cầu cung cấp thông tin…

Bài viết này tập trung vào việc phân tích các quy định về quyền tiếp cận thông tin môi trường ở Việt Nam, thực tiễn áp dụng và đưa ra một số kiến nghị, một số khuyến nghị bao gồm 3 nhóm:

-          Các khuyến nghị về áp dụng pháp luật trong trường hợp Luật Bảo vệ môi trường và Luật Tiếp cận thông tin có xung đột liên quan đến trình tự thủ tục, phạm vi thông tin được công khai và cung cấp, chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin.

-          Các kiến nghị về quy định pháp luật về cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu thông tin môi trường giữa các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo hài hòa các lợi ích công và lợi ích của người dân. Cần ban hành các văn bản quy định chế tài khi các cơ quan có thẩm quyền trì hoãn hoặc từ chối cung cấp thông tin môi trường.

-          Các kiến nghị để tăng cường hiệu quả thực tế của quyền tiếp cận thông tin về môi trường như: nhân sự, công tác thông tin tuyên truyền, các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất và hỗ trợ tài chính để thực hiện quyền tiếp cận thông tin môi trường.


CUỘC CHIẾN VỚI “NGƯỜI KHỔNG LỒ”: TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY

ĐỐI VỚI THIỆT HẠI VỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA PHÁN QUYẾT CỦA TOÀ ÁN INDONESIA

Arie Afriansyah

Khoa Luật, Đại học Indonesia

Trong 10 năm trở lại đây, Toà án Indonesia ngày càng tiếp nhận nhiều vụ việc về trách nhiệm của các công ty tư nhân đối với thiệt hại về môi trường. Hiện tượng này là có khác nhiều so với giai đoạn trước khi mà hầu như không có tranh chấp hoặc sự phá hoại môi trường nào được xử lý bởi các cơ quan tư pháp trong nước. Phương thức giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn luôn là ưu tiên hàng đầu để giải quyết các vi phạm trong lĩnh vực môi trường, vì vậy không có hiệu quả răn đe đối với người vi phạm, đặc biệt là khi người vi phạm là những doanh nghiệp. Với sự gia tăng nhận thức về vấn đề môi trường, biện pháp "khởi kiện tập thể" đã được sử dụng để khởi kiện các công ty phá hoại môi trường. Tuy nhiên, các phán quyết của Toà án lại không nhất quán. Bài viết này cho rằng sự khác biệt trong các phán quyết như vậy là do sự chi phối rất lớn bởi khả năng cung cấp các số liệu khoa học và kiến thức của hội đồng thẩm phán trong từng vụ kiện. NGOs và/ hoặc các chủ thể khác có quan tâm đến môi trường nhưng vì nguồn lực hạn chế thường sẽ chọn “khởi kiện tập thể”. Trong khi đó, doanh nghiệp bị kiện thường có khả năng tài chính cao để đối mặt với các vụ kiện về môi trường. Như vậy, "cuộc chiến với người khổng lồ" đã trở thành một thực tế điển hình khi đề cập đến đến việc yêu cầu các doanh nghiệp chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm gây thiệt hại đến môi trường.

Từ khoá: trách nhiệm công ty, thiệt hại môi trường, Indonesia, phán quyết toà án


TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG THỦY ĐIỆN TRÊN SÔNG MÊ CÔNG

ĐẾN AN NINH MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM –

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA

Võ Trung Tín

Ngô Gia Hoàng

Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh

Là một con sông lớn của khu vực và thế giới, sông Mê Công đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của người dân ở các quốc gia ven sông, trong đó có Việt Nam.Trước sức ép của tăng trưởng kinh tế, các nước trong khu vực đang tìm cách đẩy mạnh khai thác ngày càng nhiều các lợi thế về tài nguyên nước, đặc biệt là tiềm năng thủy điện. Các nghiên cứu gần đây cho thấy hệ quả tiêu cực của việc xây dựng các đập thủy điện này như làm thay đổi chế độ dòng chảy, gây khó khăn trong việc điều tiết nước ở các nước vùng hạ lưu; giữ lại phù sa trong các hồ đập, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và là nguyên nhân của tình trạng sạt lở đất; làm suy giảm nguồn lợi thủy sản, ảnh hưởng đến sinh kế của cư dân; gây kích thích động đất và hậu quả về môi trường khi các đập xả nước đột ngột.

Lợi ích trong việc khai thác sông Mê Công là khác nhau, trong khi các nước thượng nguồn hưởng lợi từ thủy điện thì các nước vùng hạ lưu phải chịu hậu quả nặng nề. Do đó, đòi hỏi cần phải có một cơ chế pháp lý, mang tính ràng buộc để các quốc gia ven dòng sông Mê Công cùng khai thác, sử dụng dòng sông này một cách có hiệu quả nhưng đồng thời không gây phương hại đến môi trường và lợi ích của các quốc gia còn lại. Hiện nay, khung pháp lý cho vấn đề kiểm soát việc khai thác nguồn nước sông Mê Công còn khá đơn giản, chưa mang tính ràng buộc cao. Hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công là căn cứ pháp lý duy nhất để các quốc gia thành viên hợp tác trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn nước sông Mê Công, nhằm đạt được phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiệp định này chưa thể phát huy hiệu quả vì thiếu sự hợp tác từ các nước ở thượng nguồn con sông là Trung Quốc và Myanmar. Ủy hội sông Mê Công quốc tế (MRC) chưa có vai trò như cơ quan tài phán và biện pháp giải quyết bất đồng cuối cùng vẫn là theo con đường ngoại giao và theo luật pháp quốc tế. Trách nhiệm của quốc gia thành viên trong quy trình PNPCA chưa cụ thể và thiếu cơ chế ràng buộc. Những hạn chế nói trên đã bộc lộ khá rõ thông qua vụ việc Lào bất chấp sự ngăn cản của các nước và các tổ chức môi trường để xây dựng đập thủy điện Xayaburi.

Trên cơ sở phân tích khung pháp lý cho hoạt động khai thác thủy điện sông Mê Công và đánh giá vụ việc cụ thể của dự án Xayaburi, nhóm tác giả kiến nghị các thành viên MRC cần tiếp tục đàm phán, kêu gọi Trung Quốc và Myanmar sớm trở thành thành viên chính thức của MRC. Đồng thời, phải xây dựng được cơ chế pháp lý cụ thể và có hiệu lực ràng buộc các bên tham gia. MRC cần thành lập cơ quan giải quyết tranh chấp chuyên biệt và có tính phán quyết buộc các bên phải tuân theo. Với tư cách là quốc gia nằm ở cuối dòng sông, Việt Nam cần có những biện pháp chủ động ứng phó với thực trạng khai thác thủy điện trên sông Mê Công của các quốc gia thượng nguồn.


SỰ PHỨC TẠP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VÀ NHỮNG THÁCH THỨCVỀ THỂ CHẾ TRONG VIỆC THIẾT LẬP CƠ CHẾ

BÁO CÁO BẮT BUỘC VỀ KHÍ THẢI NHÀ KÍNH Ở THÁI LAN

Chacrit Sitdhiwej

Khoa Luật, Đại học Thammasat, Thái Lan
         

Cơ chế báo cáo khí thải nhà kínhlà một trong những yếu tố chủ chốt cho việc xây dựng các quy định pháp luật có hiệu quả nhằm đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu. Bài viết này luận bàn về yếu tố chủ chốt nêu trên dựa vào Hướng dẫn về việc thiết kế chương trình báo cáo bắt buộc về khí thải nhà kính của Viện tài nguyên thế giới và Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới. Bài viết tìm hiểu một cách cụ thể sự phức tạp trong các quy định của pháp luật và những thách thức về thể chế mà Thái Lan gặp phải trong quá trình thiết kế Cơ chế báo cáo bắt buộc về khí thải nhà kính. Bên cạnh đó, bài viết trình bày một số giải pháp khả thi nhằm đối phó với sự phức tạp và những thách thức đó.


NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT

NHẬP KHẨU LOÀI NGOẠI LAI Ở VIỆT NAM

Vũ Thị Duyên Thủy

Phạm Thị Mai Trang

Trường ĐH Luật Hà Nội

Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô…tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Tuy nhiên, hệ sinh thái tự nhiên hiện nay đã và đang chịu ảnh hưởng lớn từ những biến đổi thất thường của tự nhiên cũng như những tác động bất lợi từ hoạt động của con người. Điều đó khiến công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên thực tế phải đối mặt với nhiều khó khăn phức tạp, trong đó có cả việc kiểm soát hoạt động nhập khẩu loài ngoại lai.

Mặc dù có những lợi ích nhất định đối với môi trường tự nhiên, phục vụ hoạt động phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, song hoạt động nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại đã và đang gây ra những mối đe dọa lớn cho vấn đề đảm bảo an ninh môi trường (nguy cơ mất cân bằng sinh thái, suy thoái đa dạng sinh học; nguy cơ gây tổn thất cho nền kinh tế quốc gia…).

Để kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập nhập loài ngoại lai, đảm bảo an ninh môi trường, trong thời gian tới, Việt Nam cần giải quyết tốt một số vấn đề pháp lý cơ bản. Đó là:

- Vấn đề xây dựng Danh mục loài ngoại lai xâm hại và thông tin về loài ngoại lai xâm hại trước khi tiến hành hoạt động nhập khẩu.

- Vấn đề đánh giá khả năng xâm hại của loài ngoại lai xâm hại trong quá trình tiến hành hoạt động nhập khẩu.

- Vấn đề về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn trong kiểm soát nhập khẩu và kiểm soát sự lây lan phát triển của loài ngoại lai sau nhập khẩu.

- Vấn đề kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại.


PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ HÒA GIẢI ĐỐI VỚI CÁC TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG

TẠI VIỆT NAM

Trần Việt Dũng

Ngô Nguyễn Thảo Vy

Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh

Tranh chấp về môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, vốn được ghi nhận tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và 2014, diễn ra ngày càng phức tạp, đòi hỏi những cơ chế pháp lý phù hợp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Hòa giải có thể giúp việc giải quyết tranh chấp không chỉ đơn thuần dừng lại ở vấn đề bồi thường thiệt hại hay hỗ trợ tài chính mà còn tối đa hoá cơ hội tự nguyện thực thi các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường bằng những dự án cụ thể. Để vận dụng cơ chế này hiệu quả trên thực tế, cần lưu ý chọn lọc tranh chấp phù hợp với phương thức hòa giải, thông thường là những vụ việc trong đó các bên vẫn có thiện chí muốn duy trì mối quan hệ với nhau, các bên có lợi ích và mối quan tâm tương đương nhau, thoả thuận dàn xếp là mục tiêu giải quyết tốt nhất nhằm ngăn ngừa các mâu thuẫn phát sinh trong dài hạn, cũng như các lợi ích về mục tiêu kinh doanh và môi trường cơ bản không xung đột nhau. Bên cạnh đó, cần nhận thức rằng vấn đề lợi ích công trong các tranh chấp về môi trường làm cho loại tranh chấp này mang tính đặc thù. Vai trò của hòa giải viên không chỉ đơn thuần là cân bằng lợi ích của các bên có xung đột và đảm bảo tính trung lập, mà còn phải bảo vệ lợi ích công liên quan tới môi trường. Vì vậy, việc thành lập một cơ quan hòa giải tranh chấp môi trường phù hợp với hai mục tiêu trên cần đáp ứng các vấn đề trọng tâm như: (i) tính độc lập của cơ quan hòa giải, (ii) tính linh hoạt và dễ tiếp cận của cơ chế, (iii) vấn đề chọn lọc tranh chấp phù hợp với phương thức hòa giải, (iv) tính minh bạch của quá trình hòa giải, và (v) nguồn nhân lực của cơ quan hòa giải tranh chấp môi trường.

Điều kiện tiên quyết để xây dựng cơ chế hoà giải tranh chấp môi trường hiệu quả là thành lập một cơ quan chuyên môn độc lập và khách quan. Thứ hai, việc phân loại các tranh chấp về môi trường nào là phù hợp với cơ chế hòa giải cũng là một điều quan trọng và cần được quy định thành giai đoạn tiên quyết trước khi tiến hành hòa giải. Thứ ba, các bên tranh chấp và Ủy ban hòa giải cần cập nhật quá trình hoà giải và có thể cân nhắc và thoả thuận việc công khai một số tài liệu trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo sự minh bạch, dễ tiếp cận và công bằng của quá trình giải quyết. Thứ tư, vấn đề kiện toàn nhân sự cũng là yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của cơ chế hòa giải tranh chấp môi trường.




Newer news items:
Older news items: